This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Ăn sáng sớm rất quan trọng với người bệnh tiểu đường týp II

Người tiểu đường không nên ăn sáng muộn

Béo phì là tình trạng phổ biến ở những người bị tiểu đường týp II. Thức khuya và dậy muộn có liên quan tới nguy cơ béo phì nhưng hiện tại đang có ít nghiên cứu liên quan tới hiện tượng này ở người bệnh tiểu đường týp II.

Các nhà nghiên cứu do Sirimon Reutrakul dẫn đầu muốn xác định xem thói quen thức khuya và dậy muộn ở những người bị tiểu đường týp II có liên quan đến tăng nguy cơ có BMI cao hơn hay không và nếu có yếu tố cụ thể nào về thói quen này tối góp phần làm tăng nguy cơ.

Reutrakul và cộng sự đã nghiên cứu 210 công nhân không phải làm ca sinh sống tại Thái Lan bị tiểu đường týp II.

Thói quen ngủ sớm, dậy sớm/thức khuya, dậy muộn được đánh giá sử dụng một bảng hỏi tập trung vào thời gian thức dậy và đi ngủ, thời điểm luyện tập trong ngày và thời điểm tham gia hoạt động tinh thần (đọc sách, làm việc vv…).

Những người tham gia được hỏi về thời gian ăn, lượng calo hấp thu hàng ngày được xác định qua báo cáo về thực phẩm sử dụng hàng ngày. Chỉ số cân nặng được đưa ra và BMI được tính cho mỗi người tham gia. Thời gian và chất lượng giấc ngủ được tính bằng cách tự báo cáo và trả lời bảng hỏi.

Thời gian ngủ trung bình tự báo cáo là 5,5 giờ/tối. Trung bình, những người tham gia sử dụng 1,103kcal/ngày. BMI trung bình ở những người tham gia là 28,4kg/m2 được coi là thừa cân. Trong số những người tham gia, 97 người có thói quen thức khuya, dậy muộn và 113 người có thói quen ngủ sớm, dậy sớm.

Những người tham gia có thói quen ngủ sớm dậy sớm sáng ăn bữa sáng từ 7 giờ sáng tới 8h30 sáng, trong khi những người có thói quen thức khuya, dậy muộn ăn bữa sáng lúc 7 giờ 30 sáng tới 9 giờ sáng.

Những người tham gia với thói quen ngủ sớm, dậy sớm có thời gian ăn sớm hơn, bao gồm bữa sáng, bữa trưa, bữa tối và bữa cuối cùng.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng có thói quen thức khuya, dậy muộn có liên quan tới BMI cao hơn. Hấp thu calo và thời gian ăn bữa trưa, bữa tối không liên quan tới BMI cao hơn.

Thói quen ngủ sớm, dậy sớm có liên quan với thời gian ăn sáng sớm hơn và giảm 0.37 kg/m2 BMI.

BS Thu Vân

(theo Univadis/THS)

Những thực phẩm nên và không nên ăn khi sử dụng kháng sinh

Bạn nên chú ý đến sức khỏe bản thân nhiều hơn khi đang sử dụng thuốc kháng sinh do các bệnh nhiễm trùng đang tấn công cơ thể và thuốc kháng sinh cũng có thể gây hại cho cơ thể.

Thuốc kháng sinh có thể giết chết vi khuẩn trong cơ thể. Nhưng những chất kháng sinh này không thể phân biệt được vi khuẩn có hại và vi khuẩn có lợi sống trong ruột, miệng và âm đạo.

Những người sử dụng kháng sinh đồng thời cũng đang tiêu diệt những vi khuẩn có lợi trong cơ thể. Thay đổi chế độ ăn uống và lối sống là cách tốt nhất để duy trì sức khỏe khi sử dụng kháng sinh.

Những thực phẩm nên và không nên ăn khi sử dụng kháng sinh

Dưới đây là một số điều bạn cần lưu ý trong chế độ ăn trong quá trình sử dụng thuốc kháng sinh.

1.Tránh các chất gây dị ứng và đường

Gluten, các sản phẩm từ sữa và đường là những thực phẩm phải tránh khi dùng kháng sinh. Đây là những chất gây dị ứng thông thường. Tránh những loại thực phẩm này sẽ giúp ngăn ngừa chứng viêm hoặc các bệnh tiềm ẩn.

2. Ăn nhiều thực phẩm chứa prebiotic

Bạn cần ăn nhiều thực phẩm lành mạnh khi đang dùng kháng sinh, đặc biệt là thực phẩm chứa chất prebiotic như sữa chua, kefir, súp miso, kimchi, kombucha và bắp cải.

3. Nên ăn thực phẩm chứa prebiotic khi nào?

Hầu hết các bác sĩ đều yêu cầu bạn uống thuốc kháng sinh từ 1-4 lần một ngày. Thuốc kháng sinh có thể giết chết vi khuẩn, do đó không nên dùng cùng lúc các thực phẩm chứa Prebiotic.

4. Kiểm soát căng thẳng

Bạn thường gặp căng thẳng khi bị bệnh, uống thuốc kháng sinh làm bạn càng thấy tồi tệ hơn. Căng thẳng có thể cản trở việc tái phân bố lại vi khuẩn trong ruột. Vì vậy, bạn phải bỏ những thói quen làm tăng mức cortisol như hút thuốc lá, uống rượu, ăn các loại thực phẩm gây dị ứng.

BS.Tuyết Mai

(theo Univadis/Boldsky)

Một số thực phẩm và món ăn có ích cho người bị bệnh thủy đậu

Cháo đậu xanh, món ăn thanh nhiệt, giải độc cho người bị bệnh thủy đậu

Cháo đậu xanh, món ăn thanh nhiệt, giải độc cho người bị bệnh thủy đậu

Cách chăm sóc bệnh nhân thủy đậu:

- Bệnh diễn biến khoảng 7 - 10 ngày, nếu không có nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn da và các biến chứng khác, thường có thể tự khỏi một cách tự nhiên.

- Dùng thuốc hạ nhiệt khi trẻ sốt, cho ăn uống đủ chất. Cho trẻ ăn nhiều bữa, thức ăn lỏng, tăng thành phần dinh dưỡng, để tăng cường sức đề kháng, hạn chế biến chứng. Cho bệnh nhân nghỉ ngơi tại giường, hạn chế tiếp xúc và đi lại.

- Nếu thấy nốt phỏng có dạng nước đục, tức là có bội nhiễm vi khuẩn, hoặc thấy trẻ ho, sốt tăng trở lại, người mệt mỏi, đau đầu, nôn... có thể trẻ đã bị một trong các biến chứng hay gặp như: viêm da, viêm phổi, viêm não - màng não, cần nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện.

- Tiêm phòng vắc-xin thủy đậu là biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh. Vắc-xin được tiêm lúc trẻ được một tuổi trở lên.

Bệnh thủy đậu là do virút Varicella Zoster gây ra. Bệnh thường xuất hiện vào cuối đông đầu xuân, kéo dài sang hè.

Bệnh nhân thủy đậu có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, 24 - 48 giờ sau bắt đầu sốt. Đến ngày thứ 3, bắt đầu phát ban trên da, mới đầu là mụn rát đỏ, sau vài giờ, nốt nổi phỏng trên da.

Mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 - 24 giờ. Mụn nước có kích thước từ l - 3mm, chứa dịch trong, ở những trường hợp nặng, mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi khuẩn, mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ.

Biến chứng phổ biến nhất của bệnh là nhiễm trùng da có thể dẫn đến sẹo. Những vết sẹo này thường là sẹo lõm trên da, gây mất thẩm mỹ và thường lưu lại đến hết đời.

Thủy đậu rất dễ lây lan trong cộng đồng.

Nên tránh

Trong lúc bị bệnh, nên tránh các thức ăn nhiều dầu mỡ, tránh ăn thức ăn nóng và có tính bổ dưỡng quá. Tốt nhất nên dùng thức ăn thanh đạm, đầy đủ các chất dinh dưỡng và dưới dạng thức ăn lỏng hoặc nửa lỏng, dễ tiêu hóa, như cháo đậu xanh, cháo củ năng-ý dĩ, cháo củ năng - lá tre non, cháo gạo lứt, cháo kim ngân hoa, cháo tiểu mạch, cháo miến đậu xanh, măng tây, trứng, chuối, đậu đỏ, đậu xanh, đậu đen, khoai tây, cà rốt, củ cải trắng, bí đao, rau bồ ngót, rau sam, rau má, mướp đắng, rau dền, cải thảo, cải bắp, rau diếp, ngải cứu.

Người bệnh thủy đậu nên ăn bí đao, mướp đắng, đậu xanh, đậu đen, khoai tay, cải bắp, ngải cứu,...

Người bệnh thủy đậu nên ăn bí đao, mướp đắng, khoai tây, cải bắp, ngải cứu,...

Gạo lứt, đậu đỏ, đậu xanh, đậu đen rất tốt cho người bệnh thủy đậu

Gạo lứt, đậu đỏ, đậu xanh, đậu đen rất tốt cho người bệnh thủy đậu

Những người đang bị bệnh thủy đậu nên tránh ăn các loại gia vị cay nóng như: gừng, hành, tỏi, hành tây, tỏi tây, ớt, hạt tiêu, thì là, cà ri, mù tạt, rau mùi, các loại thịt như thịt dê, thịt chó, thịt gà, thịt ngan, ngỗng, lươn, các loại hải sản (tôm, cua, sò, ốc…), trái vải, long nhãn, mận, xoài chín, mít, hồng, anh đào, rau muống, các chất nhiều béo như hạt dẻ, đậu phụng rang, hạt dưa rang, đậu chiên, các loại bánh rán, các thức ăn chiên xào, mỡ động vật…

Kỵ nhất là nhục quế, vì nhục quế có tính đại nhiệt, thuần dương, tác dụng ôn nhiệt trợ hỏa, quá khô táo, làm tổn hại âm chất, rất nguy hiểm cho bệnh nhân thủy đậu.

Nên làm

Dùng thực phẩm chứa nhiều vitamin C như: chanh, cam, bơ, dâu tây, kiwi, lê, dưa hấu, dưa leo, cà chua...

Vitamin C có tác dụng giúp tăng cường sức đề kháng, chống nhiễm trùng, đẩy nhanh quá trình sản sinh ra collagen, phòng ngừa sẹo lõm.

Thực phẩm giàu vitamin C tăng cường đề kháng, chống nhiễm trùng

Sau khi lành bệnh, các vết thương bắt đầu khô miệng và lên da non, nên sử dụng nghệ tươi ngay lúc này để trị sẹo lõm sau thủy đậu.

Cách làm: rửa sạch củ nghệ, cạo nhẹ lớp vỏ bên ngoài để phần nước từ bên trong được tiết ra. Thoa nước này đều xung quanh vùng sẹo mỗi ngày một lần trước khi đi ngủ, để qua đêm và rửa sạch vào sáng hôm sau, rồi sau đó tiếp tục bôi lên một lớp khác.

Một số món ăn có ích cho người bị bệnh thủy đậu

Nước tam đậu, cam thảo:

Đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, mỗi thứ 100g, cam thảo bắc 2g.

Nấu với 1 lít nước, sắc còn 500ml, chia 2 - 3 lần cho trẻ uống trong ngày.

Các món canh ngon từ rau ngót và thịt heo.

Canh thanh nhiệt:

Đậu xanh, củ năng, rễ tranh, đọt tre non, cà rốt, mỗi thứ 20 - 30g. Nấu với 1 lít nước, sắc còn 650ml, chia 2 lần cho trẻ uống trong ngày (nếu trẻ bị suyễn, ho, thì không dùng củ năng và cà rốt).

Món canh này có tác dụng tư nhuận, hạ hỏa, rất có ích cho người bị thủy đậu, sốt cao, người nóng bứt rứt.

Kim ngân hoa

Kim ngân hoa

Nước kim ngân hoa:

Kim ngân hoa 10g, nước mía 20ml. Nấu với 500ml nước, sôi khoảng 10 phút. Ngày uống một lần, uống liên tục 7 - 10 ngày, để giúp sơ phong thanh nhiệt, hạ sốt.

Cháo đậu đỏ, ý dĩ:

Ý dĩ nhân 20g, đậu đỏ 30g, thổ phục linh 30g, gạo tẻ 100g.

Tất cả rửa sạch, nấu với lương nước thích hợp thành cháo. Chia ăn 3 lần trong ngày, với ít đường cát trắng hoặc đường phèn.

Món cháo này có tác dụng giải độc trừ thấp, đặc biệt thích hợp cho thủy đậu đã được ra, nhưng vẫn còn sốt, nước tiểu vàng đỏ, người mệt mỏi, chán ăn.

Cháo đậu, thịt heo:

Gạo tẻ 80g, đậu đỏ 30, đậu xanh 30g, thịt heo băm nhỏ 50g. Tất cả nấu với lượng nước thích hợp thành cháo nhừ. Dùng ăn vào lúc đói bụng.

Món cháo này dễ tiêu, rất tốt cho người bệnh thủy đậu, có sốt nhẹ.

Nước rau sam:

Khi bị thủy đậu, có thể dùng rau sam tươi 100 - 120g, rửa thật sạch, ép lấy nước, uống trong ngày.

Nước rau sam có tác dụng giải nhiệt, kháng viêm, ngừa mụn nhọt, rất tốt cho người bị thủy đậu.

Lương y ĐINH CÔNG BẢY

(SKĐS cuối tuần)

Ăn các loại hạt giúp giảm nguy cơ nhịp tim bất thường

ăn hạt giảm nguy cơ nhịp tim bất thường

Mức độ sử dụng hạt thường xuyên này cũng có thể làm giảm nguy cơ suy tim mặc dù các kêt quả còn chưa nhất quán.

Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng ăn hạt thường xuyên có liên quan tới nguy cơ bệnh tim/đột quỵ và nguy cơ tử vong thấp hơn nhưng không làm rõ loại bệnh tim mạch nào có liên quan tới việc sử dụng hạt.

Để nghiên cứu sâu hơn điều này, các nhà nghiên cứu đã lấy thông tin dựa trên một bảng hỏi về tần suất sử dụng thực phẩm và thông tin lối sống từ hơn 61.000 người Thụy Điển từ 45-83 tuổi.

Sức khỏe tim mạch của họ được theo dõi trong 17 năm sau đó (tới cuối năm 2014) hoặc cho tới khi chết.

Những người ăn hạt có xu hướng được giáo dục tốt hơn và có lối sống lành mạnh hơn so với những người không bổ sung hạt vào chế độ ăn. Họ cũng ít hút thuốc hơn ít có tiền sử bị huyết áp cao. Họ gầy hơn, hoạt động thể chất tích cực hơn, uống nhiều rượu và ăn nhiều hoa quả và rau xanh.

Sử dụng các loại hạt có liên quan tới giảm nguy cơ đau tim, suy tim, rung nhĩ và phình động mạch chủ bụng sau khi tính đến các yếu tố độ tuổi và giới tính.

Nhưng khi một số yếu tố nguy cơ có khả năng ảnh hưởng được tính đến bao gồm lối sống, chế độ ăn, bệnh tiểu đường và tiền sử gia đình, chỉ các mối liên quan với rung nhĩ và với suy tim được làm rõ.

Chế độ ăn càng bao gồm nhiều các loại hạt, nguy cơ mắc rung nhĩ càng thấp.

Ăn một khẩu phần hạt 1 tới 3 lần mỗi tháng có liên quan tới giảm 3% nguy cơ và tăng tới 12% khi ăn 1 tới 2 lần mỗi tuần và tới 18% khi ăn từ trên 3 lần mỗi tuần.

Những phát hiện về suy tim là ít nhất quán: sử dụng hạt mức độ trung bình nhưng không cao có liên quan tới nguy cơ thấp hơn 20%.

Tăng mỗi khẩu phần hạt ăn trong tuần liên quan tới giảm 4% nguy cơ rung nhĩ.

BS Thu Vân

(theo Univadis/THS)

Dinh dưỡng và hoạt động thể chất cho bệnh nhân ung thư

Nói chung, các bệnh nhân ung thư có 3 thời kỳ: (1) điều trị tích cực và hồi phục sau điều trị, (2) sống sau hồi phục, bao gồm không bệnh và bệnh ổn định, (3) bệnh tiến triển và cuối đời. Mỗi thời kỳ có nhu cầu và đòi hỏi khác nhau về dinh dưỡng và hoạt động thể chất. Nhu cầu dinh dưỡng thay đổi theo quá trình diễn biến của bệnh nhân ung thư. Chọn lựa lối sống có tầm quan trọng đặc biệt giúp cho thành công trong điều trị toàn diện và tìm kiếm phương cách cho bệnh nhân tự chăm sóc để cải thiện kết quả về lâu dài.

Thời kỳ điều trị tích cực và hồi phục sau điều trị

1. Dinh dưỡng trong thời kỳ điều trị ung thư và hồi phục

Khi ở giai đoạn trễ, bệnh nhân thường đã bị sụt cân và suy kiệt. Ngoài ra, khi điều trị ung thư, nôn ói cũng gây sụt cân thêm. Do đặc điểm này, ung thư được xem như là bệnh đi kèm với sụt cân hơn là béo phì. Tuy nhiên, hiện nay nhiều bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm và điều trị hiệu quả hơn. Do đó, có tăng số lượng bệnh nhân ung thư dư cân hoặc béo phì, tăng cân thêm là một biến chứng có thể có của điều trị.

Dinh dưỡng và hoạt động thể chất cho bệnh nhân ung thưChế độ dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng với người bệnh ung thư

Cân nặng thay đổi không những chịu ảnh hưởng nhiều vào loại ung thư và giai đoạn lúc chẩn đoán, mà còn do những thay đổi đáng kể về chuyển hóa và sinh lý, làm ảnh hưởng đến nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng và vi chất. Các triệu chứng như chán ăn, ăn mau no, những thay đổi mùi vị, rối loạn tiêu hóa do ung thư gây ra hoặc do tác dụng phụ của điều trị dẫn đến ăn uống không đủ và suy dinh dưỡng. Sụt cân đáng kể và dinh dưỡng kém có thể xảy ra sớm trong quá trình diễn tiến ở một số loại ung thư. Do đó, cung cấp đủ năng lượng để ngừa sụt cân thêm là hết sức cần thiết cho những bệnh nhân suy dinh dưỡng và cho những bệnh nhân mà điều trị gây ảnh hưởng lên đường tiêu hóa.

Đưa ra những lời khuyên dinh dưỡng theo từng cá nhân có thể cải thiện chế độ ăn uống và giảm đi một số độc tính do điều trị ung thư gây ra

Các mô thức chính trong điều trị ung thư như phẫu thuật, xạ trị và hóa trị đều ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu dinh dưỡng, thay đổi thói quen ăn uống, gây cản trở tiêu hóa, hấp thu và sử dụng thực phẩm. Đánh giá dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư nên bắt đầu sớm ngay sau chẩn đoán và đánh giá cùng với các mục đích điều trị (chữa lành, kiểm soát hay giảm nhẹ), tập trung vào tình trạng dinh dưỡng hiện tại và các triệu chứng liên quan đến dinh dưỡng.

Trong lúc điều trị ung thư, mục đích chăm sóc dinh dưỡng nên ngừa hoặc giải quyết tình trạng suy dinh dưỡng, duy trì cân nặng thích hợp, bảo tồn khối lượng cơ thể không tính mỡ, giảm thiểu tác dụng phụ ảnh hưởng đến dinh dưỡng và tăng tối đa chất lượng sống. Các nghiên cứu xác định nếu có tư vấn dinh dưỡng trong điều trị ung thư sẽ cải thiện được kết quả điều trị cũng như tác dụng phụ ít hơn, cải thiện chất lượng sống và chế độ ăn. Nên tư vấn chuyên gia dinh dưỡng ung thư.

Đưa ra những lời khuyên dinh dưỡng theo từng cá nhân có thể cải thiện chế độ ăn uống và giảm đi một số độc tính do điều trị ung thư gây ra. Tùy theo tình trạng bệnh nhân mà có những lời khuyên dinh dưỡng theo từng cá nhân như sau:

- Đối với những bệnh nhân chán ăn, ăn mau no, có nguy cơ sụt cân: ăn mỗi bữa lượng nhỏ, uống ít nước hay ít canh giúp tăng hấp thu thức ăn. Giữa các bữa ăn nên uống nhiều nước để bù lại tránh mất nước.

- Đối với những bệnh nhân không đáp ứng yêu cầu dinh dưỡng qua thực phẩm hằng ngày, cần được tăng cường bằng thức uống hoặc thức ăn giàu dinh dưỡng chế biến sẵn trên thị trường hoặc tại nhà, có thể cải thiện nhu cầu cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng.

- Đối với những bệnh nhân không đáp ứng các yêu cầu dinh dưỡng bằng các biện pháp trên và có nguy cơ suy dinh dưỡng, bệnh nhân cần các biện pháp hỗ trợ dinh dưỡng khác như thuốc kích thích thèm ăn, nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa bằng ống thông hoặc nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch.

Sử dụng vitamin, chất khoáng và thực phẩm bổ sung trong điều trị ung thư vẫn còn tranh cãi. Chẳng hạn như, khi dùng thực phẩm bổ sung chứa folate hoặc thực phẩm tăng cường giàu folate có thể gây trở ngại cho bệnh nhân được hóa trị bằng kháng folate, như methotrexate. Nhiều thực phẩm bổ sung chứa các chất có nồng độ cao quá mức so với bình thường có trong thức ăn và quá mức nhu cầu được đề nghị.Với những bằng chứng bất lợi ngay cả khi dùng thực phẩm bổ sung lượng vừa ở bệnh nhân ung thư, nên nhiều chuyên gia ung thư liên tục đưa ra lời khuyên chống lại việc sử dụng thực phẩm bổ sung trong và sau điều trị, và đề nghị hạn chế sử dụng trong những trường hợp suy yếu cơ thể hoặc tăng cường sức khỏe. Lo ngại này do, về mặt lý thuyết, một số nhóm thực phẩm bổ sung với những chất chống oxy hóa, ngăn cản tác dụng tổn thương tế bào ung thư do oxy hóa của xạ trị hay hóa trị. Ngược lại, một số bác sĩ lâm sàng nhận thấy khả năng gây hại do các chất chống oxy hóa chỉ là giả thuyết nhưng có lợi là giúp bảo vệ tế bào bình thường khỏi bị tổn thương thêm do điều trị ung thư.

Với bằng chứng thuyết phục chống lại việc sử dụng thực phẩm bổ sung có chọn lọc ở một số bệnh nhân ung thư, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và bệnh nhân có nhu cầu sử dụng hãy thận trọng. Nếu có ích lợi khi bổ sung, mỗi cá nhân đầu tiên nên đánh giá có thiếu dinh dưỡng không, tránh sử dụng quá mức 100% giá trị nhu cầu hằng ngày, và cân nhắc hạn chế sử dụng thực phẩm bổ sung trong điều trị hỗ trợ cho các bệnh lý mạn tính như loãng xương và một số bệnh lý khác.

2. Rèn luyện thể chất trong lúc điều trị ung thư

Trong lúc điều trị ung thư, rèn luyện thể chất vẫn an toàn và dễ dàng giúp cải thiện chức năng các cơ quan trong cơ thể, giảm mệt mỏi và cải thiện chất lượng sống. Có một nghiên cứu cho thấy rèn luyện thể chất không ngăn cản đáp ứng hóa trị.

Quyết định khi nào bắt đầu và duy trì như thế nào tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe và ưa thích của từng cá nhân. Rèn luyện thể chất trong lúc điều trị ung thư cải thiện nhiều tác dụng phụ sau điều trị lên xương và sức cơ.

Những bệnh nhân hóa trị và hoặc xạ trị đã có chương trình luyện tập rồi thì cần luyện tập ở cường độ thấp và ngắn trong lúc điều trị, mục đích chính là duy trì hoạt động thể chất càng nhiều càng tốt. Một số bác sĩ lâm sàng khuyên, đợi hết thời gian kéo dài tác dụng phụ hóa trị hãy bắt đầu luyện tập.

Đối với những bệnh nhân ít đi lại trước khi bị ung thư, hoạt động cường độ thấp như co duỗi tại chỗ, đi bộ chậm và chậm nhanh dần.

Đối với bệnh nhân di căn xương hoặc loãng xương, hay bị suy yếu như viêm khớp hoặc bệnh thần kinh ngoại biên, nên thận trọng giữ thăng bằng và an toàn, tránh té ngã và chấn thương. Cần các chuyên gia hỗ trợ trong các buổi tập.

Dinh dưỡng và hoạt động thể chất cho bệnh nhân ung thư

Nếu bệnh hoặc điều trị cần thời gian nghỉ ngơi tại giường, suy yếu, giảm sức cơ và teo cơ có thể xảy ra. Vật lý trị liệu giúp duy trì sức cơ, ngừa giới hạn cử động, xóa tan mệt mỏi và trầm cảm.

3. Thời kỳ hồi phục sau điều trị

Sau khi kết thúc điều trị ung thư, tiếp theo là thời kỳ hồi phục. Trong thời kỳ này, các triệu chứng và các tác dụng phụ ảnh hưởng đến dinh dưỡng và hoạt động thể chất bắt đầu được giải quyết. Đa số các tác bệnh nhân bị tác dụng phụ cấp tính sẽ hồi phục trong vài tuần hoặc vài tháng sau kết thúc điều trị, một số trường hợp kéo dài lâu hơn. Ngoài ra, các tác dụng phụ muộn hoặc tiềm ẩn có thể xuất hiện sau nhiều tháng hoặc nhiều năm sau điều trị. Tác dụng phụ kéo dài hoặc biến chứng do điều trị liên quan đến tình trạng dinh dưỡng là mệt mỏi, bệnh thần kinh ngoại biên, thay đổi vị giác, khó nhai, khó nuốt hoặc khó hồi phục cân nặng cơ thể, thay đổi thói quen ruột như tiêu chảy hoặc táo bón.

Bệnh nhân cần được tiếp tục đánh giá và hướng dẫn về dinh dưỡng trong thời kỳ này. Đối với những bệnh nhân xuất hiện sụt cân do điều trị hoặc có những trở ngại về tình trạng dinh dưỡng thì tiếp tục chăm sóc nâng đỡ, điều trị giảm triệu chứng và kích thích thèm ăn, giúp cho quá trình hồi phục. Sau điều trị, chương trình rèn luyện thể chất đều đặn là cần thiết để hỗ trợ cho quá trình hồi phục và cải thiện thể lực.

(Còn tiếp)

BS.CKII. NGUYỄN HỮU HÒA

(Theo Hội ung thư Mỹ (American)

Những loại nước uống `đánh bay` nắng nóng mùa hè

Nuoc-uong-danh-bay-nang-nong-mua-he

1. Nước mía

Theo quan niệm của đông y, nước mía giúp giải nhiệt và thải độc rất tốt. Nước mía có thể dùng để chữa các bệnh đường hô hấp, sốt cao, bụng trướng đầy.

Để chữa suy nhược cơ thể, ăn uống kém, ngủ ít, bạn có thể dùng bài thuốc từ nước mía như sau: nước mía 300ml, trứng gà tươi 2 quả. Nước mía đun sôi, đập trứng vào để nhỏ lửa 3 phút, nhắc xuống. Ăn nóng.

Để làm đẹp da và tóc: nước rau má 100ml, nước dừa 50ml, nước mía 50ml. Hòa đều có thể thêm mật ong, sữa ong chúa. Uống đều.

2. Nước râu ngô

Nước râu ngô có chứa nhiều vitamin, giúp thanh nhiệt, trị mụn nhọt. Để giảm cân hay hạ cholesterol máu, uống nước râu ngô rất tốt.

3. Mướp đắng

Mướp đắng (hay khổ qua) có công dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, chống say nắng, sáng mắt, nhất là khi bị kiết lỵ do nóng. Mướp đắng mắt to sẽ ít đắng hơn mướp đắng đèo. Ngoài ra, trong điều kiện trời nóng, những người dễ bị ra mồ hôi hay bị nổi rôm sảy, ngứa, nấu nước khổ qua tắm một lần mỗi ngày làm giảm ngứa rõ rệt.

4. Sinh tố hoa quả

Mùa hè cũng là mùa các loại hoa quả nhiệt đới lên ngôi. Một ly sinh tố mỗi ngày sẽ giúp cung cấp đủ vitamin, khoáng chất, giúp bạn đẹp da đẹp tóc. Bạn có thể uống nước dừa, nước chanh, nước cam, sinh tố đu đủ, sinh tố xoài hay sinh tố dứa,... để đánh bay nắng nóng và cung cấp dưỡng chất cho cơ thể từ bên trong.

Ngoài ra, atiso, sắn dây, hay rau má cũng giúp giải nhiệt, làm mát cơ thể một cách hữu hiệu.

LiLy

7 loại rau giúp bạn giảm béo hiệu quả

Quả dưa chuột

Từ quan điểm dinh dưỡng, dưa chuột chứa rất nhiều vitamin và chất chống oxy hoá, đặc biệt nếu bạn ăn cả vỏ. Tuy nhiên, dưa chuột không chứa nhiều chất xơ giống nhiều loại rau hay trái cây khác nên nó ít có cơ hội khiến bạn tăng cân mà ngược lại còn giúp bạn tránh khỏi béo phì một cách hiệu quả và tự nhiên.

Măng tây

Những thân cây xanh này có chứa hương vị tuyệt vời và asparagine, một axit amin hoạt động như một chất lợi tiểu tự nhiên, giúp cơ thể mất đi lượng nước dư thừa nên cũng giúp bạn giảm cân. Nhưng bạn cần chú ý, không nên ăn nhiều măng tây một lúc vì nó có thể gây ra hiện tượng đầy bụng.

Quả bơ

Quả bơ chứa nhiều kali, giúp điều hòa cân bằng nước và điện giải, có thể kích thích trao đổi chất, giúp xử lý chất thừa trong cơ thể. Thêm vào đó, bơ chứa nhiều chất béo lành mạnh giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng khác một cách tối đa.

Quả bí

Nhiều loại rau chứa FODMAPs, một nhóm các loại đường nhất định và carbohydrate có thể gây ra đau bụng, đầy hơi ở những người có các chứng bệnh dạ dày như hội chứng ruột kích thích (IBS). Quả bí có nhiều trong mùa hè thường có lượng FODMAPs thấp và là một lựa chọn tốt cho những người đang cố gắng để cắt giảm trọng lượng.

Rau lá xanh

Rau cải và các loại rau lá xanh có hàm lượng vitamin B cao, giúp giảm sự giữ nước. Xà lách là một trong những loại rau lá xanh đậm được nhiều người yêu thích do mùi vị dễ chịu, dễ chế biến cùng món ăn hoặc làm salad.

Dưa cải bắp

Để tăng cường các probiotics (vi khuẩn sống) thân thiện với ruột, hãy thử một số loại rau lên men, như bắp cải muối. Nếu bạn lo sợ loại rau này gây ra các vấn đề về tiêu hóa thì bạn cần đảm bảo mua chúng ở nơi an toàn vệ sinh và bảo quản trong tủ lạnh với thời gian hợp lý.

Cà chua

Cà chua giàu chất chống oxy hoá và là loại rau dễ chế biến nhất, có thể dùng cùng với nhiều thực phẩm khác nhau, đặc biệt với món salad hoặc nước sốt. Cà chua cũng được ghi vào danh sách những loại rau ít có khả năng khiến bạn tăng cân mà hoàn toàn ngược lại để bạn yên tâm ăn chúng và vẫn giữ được vóc dáng thon thả.

Ngoài những loại rau này, bạn có thể thử nhiều loại rau khác vì với cơ địa mỗi người khác nhau thì rất khó để khẳng định một loại rau tốt cho tất cả mọi người. Thực tế cho thấy, có những người ăn loại rau này bị đầy bụng nhưng người khác lại không.

Lê Thu Lương

(Theo Prevention)